Tin nội bộ > Trang tin Khoa học
 
 
 
 
Nghiên cứu chọn tạo giống bông chín sớm, năng suất cao và chất lượng xơ tốt thích hợp cho các vùng sản xuất chính
Ngày đăng: 13/09/2018       Số lượt xem: 80       Người đăng: admin
 

Trên thế giới, cây bông (Gossypium sp.) được trồng ở hơn 90 quốc gia, với diện tích hàng năm khoảng 34-35 triệu ha và sản lượng đạt khoảng 20-25 triệu tấn bông xơ, có giá trị trên 20 tỷ USD.

 

Theo đánh giá của Hiệp hội Tư vấn Bông thế giới, trong 10 năm trở lại đây bình quân năng suất và giá bông xơ có tăng nhưng với tốc độ chậm so với xu hướng tăng ngày càng nhanh của chí phí sản xuất do tăng giá vật tư đầu vào, chi phí lao động và một số chi phí thiết bị bổ sung và phụ trợ khác. Hiện tại, chi phí sản xuất trung bình khoảng 500 - 2500USD/ha tùy thuộc vào điều kiện sản xuất và mức năng suất đạt được. Từ đó, thu nhập của người trồng giảm và khả năng cạnh tranh của cây bông so với các cây trồng khác thấp.


Đối với Việt Nam, phát triển bông hiện tại cũng nằm trong xu thế chung của thế giới. Năng suất bông bình quân cả nước thấp (440 - 460kg xơ/ha) và tăng chậm. Hơn nữa, chi phí sản xuất cao, ước tính 11 - 12 triệu đồng/ha (570 - 600 USD/ha). Trung bình chi phí khoảng 1,1USD/1kg xơ, thuộc nhóm nước có chi phí sản xuất cao nhất và đang có xu hướng tăng theo giá cả vật tư, nhân công... hiện tại và sắp tới. Chính vì thế, các đơn vị sản xuất khó có thể dùng biện pháp tăng giá mua để kích thích người trồng, đồng thời, hiệu quả sản xuất bông thấp, rủi ro cao, cây bông mất ưu thế cạnh tranh so với cây trồng khác. Hơn nữa, một trong những hạn chế năng suất bông Việt Nam và làm tăng chi phí đầu vào là sâu hại (sâu đục quả, chích hút) và bệnh hại (như đốm lá, phấn trắng...) phổ biến ở các vùng.

Trước thực tế trên, giống chín sớm kết hợp với khả năng kháng cao đối với một số loại sâu hại chính có thể tiết kiệm chi phí đầu vào (phân bón, nước tưới, phòng trừ sâu bệnh, công lao động), tạo cơ chế trốn tránh rủi ro do áp lực sâu bệnh hại tích lũy cao và bất lợi ngoại cảnh (hạn, mưa muộn...) vào cuối vụ, từ đó, có thể cải thiện năng suất. Đồng thời giống chín sớm, nếu có chất lượng xơ tốt, phù hợp với yêu cầu Dệt – May nội địa sẽ kích thích nhà tiêu thụ và chế biến xơ, làm tăng giá trị của xơ bông.

Hiện tại, trong chọn tạo giống bông, thành tựu quan trọng nhất là phát triển các giống lai F1 từ năm 1995. Loại hình giống này có ưu thế lai cao về sinh trưởng, năng suất, có chất lượng xơ tốt, kháng cao đối với sâu đục quả/sâu chích hút (như VN15, VN01-2, VN04-4, VN35KS...). Tuy nhiên, hạn chế trong sử dụng giống lai là giá thành hạt giống cao và thời gian sinh trưởng dài (150-170 ngày), yêu cầu cao về độ phì đất, nước tưới, dinh dưỡng... nên chi phí đầu vào và tính rủi ro cao. Trong khi đó, các giống thuần chủ yếu được sử dụng trước năm 1995 với một số giống bông quốc gia như TH1, TH2, MCU9, M456-10, D16-2, C118... Nhược điểm của chúng là khả năng kháng đối với một số loại sâu hại kém. Gần đây, 02 giống bông thuần TM1KS và VN36PKS đã được công nhận cho sản xuất thử với tính kháng sâu được cải thiện. Tuy nhiên tất cả chúng đều thuộc nhóm chín trung bình hoặc trung bình muộn (thời gian sinh trưởng >150 ngày).

Trong bối cảnh như vậy, nhóm nghiên cứu do ThS. Đặng Minh Tâm, Viện Nghiên cứu Bông và PTNN Nha Hố đứng đầu đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống bông chín sớm, năng suất cao và chất lượng xơ tốt thích hợp cho các vùng sản xuất chính” nhằm chọn tạo được các giống bông chín sớm, tập trung, có năng suất và chất lượng xơ cao, phù hợp với cơ cấu cây trồng một số vùng trồng bông chính.

Sau một thời gian triển khai thực hiện, nhóm nghiên cứu thu được các kết quả cụ thể như sau:


- 27 mẫu giống chọn lọc từ tập đoàn quỹ gen 90 mẫu giống có thời gian sinh trưởng và các đạc trung hình thái giống chín sớm nhưng nhiễm sâu xanh và rầy xanh, không thể sử dụng bình tuyển trực tiếp mà thông qua lai tạo và chọn lọc sau lai.


- Trong 8 quần thể từ thế hệ F2 đến F7, 49 dòng triển vọng được chọn lọc cho so sánh, 21 dòng cho khảo nghiệm cơ bản, 3 dòng cho khảo nghiệm sản xuất. Các dòng đều có thời gian tận thu ≤ 135 ngày, có các đặc trưng hình thái liên qua tính chín sớm, năng suất hơn hẳn đối chứng chín sớm hiện trồng, chất lượng xơ tốt, kháng sâu xanh đục quả nhưng nhiễm rầy xanh.


- Di truyền các tính trạng chín sớm tuân theo mẫu hình cộng - trội, trong đó, ưu thế thuộc về hiệu quả tính trội trong hoạt động gen của tính trạng số cành quả/cây, cả hiệu quả cộng và trội ở 2 tính trạng vị trí cành quả 1 và năng suất bông hạt, hiệu quả cộng ở số cành đực và cành quả/cây, thời gian nở hoa và quả, chỉ số chín sớm và chất lượng xơ.


- Trong các tổ hợp lai F1đánh giá, 74 tổ hợp được chọn lọc cho so sánh, 10 tổ hợp cho khảo nghiệm cơ bản, 6 tổ hợp cho khảo nghiệm sản xuất. Các dòng đều có thời gian tận thu ≤ 135 ngày, có các đặc trưng hình thái liên qua tính chín sớm, năng suất hơn hẳn đối chứng chín sớm hiện trồng, chất lượng xơ tốt, kháng sâu xanh đục quả cao nhưng nhiễm rầy xanh.


- Trong các giống thuần và lai khảo nghiệm qua các bước, giống NH14-4 và VN14-3CS chín sớm, thấp cây, năng suất vượt đối chứng chín sớm trên 15 % ở các vùng, phẩm chất xơ tốt, kháng sâu xanh đục quả nhưng nhiễm rầy xanh chích hút.


- Đối với các giống bông thuần chín sớm, có thể trồng tăng mật độ lên 10 12,5 vạn cây/ha, gieo thời vụ muộn cuối tháng 7 dương lịch tại Tây Nguyên, bón phân NPK tập trung giai đoạn đầu, lượng phân hoặc chỉ bón lót hoặc 50% bón lót và 50% bón thúc 1 lần.


- Đối với các giống bông lai chín sớm, có thể trồng tăng mật độ lên 7,5 vạn cây/ha, gieo thời vụ muộn cuối tháng 7 dương lịch tại Tây Nguyên, bón phân NPK tập trung giai đoạn đầu, lượng phân hoặc chỉ bón lót hoặc 50% bón lót và 50% bón thúc 1 lần.


- Trên cơ sở quy trình hiện hành bổ sung các yếu tố mới của đề tài, mô hình trồng giống bông thuần và bông lai chín sớm cho hiệu quả kinh tế khá cao, lãi thuần đạt trung bình hơn 4,5 và 6,0 triệu đồng/ha so với đối chứng hơn 1,2 và 2,5 triệu đồng/ha tương ứng.


- Kết quả nghiên cứu là một giải pháp kỹ thuật thích hợp, hiệu quả để tăng khả năng canh tranh của cây bông, khôi phục và phát triển sản xuất bông nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cao của ngành Dệt - May.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 13358/2017) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

 

P.T.T (NASATI)

 
Các tin tức khác [Quay về] 
 
     Hội nghị Khoa học và Công nghệ chuyên ngành trồng trọt và bảo vệ thực vật giai đoạn 2013 - 2018    (09/09/2018 | 245)
     Bệnh khảm lá sắn và biện pháp ngăn chặn lây lan    (06/09/2018 | 148)
     Chuyển giao giống lúa N25    (04/09/2018 | 164)
     Tập huấn sản xuất chè cho các nước ASEAN    (29/08/2018 | 147)
     Viện NC bông và PTNN Nha Hố làm việc với UBND huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận nhằm đẩy mạnh hợp tác chuyển giao KHCN trong SXNN    (13/08/2018 | 557)


  :: TIN MỚI NHẤT
Australia tài trợ dự án giúp người nông dân trồng xoài
Dinh dưỡng hiệu quả để phát huy tối đa năng suất của kỹ thuật trồng thanh long theo hàng
Hội nghị Khoa học thanh niên Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam lần thứ IV - năm 2018
Chương trình làm việc của PGĐ Phạm Văn Toản
Chương trình làm việc của PGĐ Đào Thế Anh

  :: TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bơ
Hạnh phúc là biết hài lòng với những gì mình đang có
Điều khiển sự ra hoa của cây Thanh Long
Top 10 loài hoa đẹp nhất Việt Nam
Thành tựu đã đạt được
 

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.


Người chịu trách nhiệm chính : Giám đốc Nguyễn Hồng Sơn

 

Giấy phép số: 114/GP-BTTTT ngày 23/03/2007 Bộ Thông tin và Truyền thông.


Trụ sở: Thanh Trì - Hà Nội;  Điện thoại: 84.24.38615487;  Fax: 84.24.38613937.