Sản phẩm KHCN > Trang tin Kết quả nghiên cứu khoa học
 
 
 
 
Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất bông tại Sơn La
Ngày đăng: 03/10/2018       Số lượt xem: 293       Người đăng: luungocminh
 

 


  

Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc có điều kiện tự nhiên và xã hội phù hợp với việc phát triển sản xuất cây bông. Cây bông được trồng tại Sơn La trong điều kiện đất đồi dốc và phụ thuộc hoàn toàn nước trời. Đây chính là yếu tố gây nhiều trở ngại nhất trong việc áp dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất bông, bên cạnh đó cũng là yếu tố làm cho cây bông chưa phát huy tối đa tiềm năng năng suất và không ổn định. Điều này làm cho hiệu quả kinh tế của cây bông chưa thực sự hấp dẫn đối với người trồng bông. Thực tiễn sản xuất đã cho thấy, bên cạnh những chính sách ưu đãi về giá, đầu tư, bao tiêu sản phẩm cho nông dân, rất cần có sự hỗ trợ của giải pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm tăng năng suất bông, giảm chi phí công lao động và nâng cao thu nhập từ trồng bông cho nông dân.


Một đặc tính rất quan trọng của cây bông vải mà những cây trồng ngắn ngày khác không có là ra hoa, đậu quả lai rai, ra nhiều lứa hoa quả trong một chu kỳ sinh trưởng phát triển nên nó có khả năng bù đắp lượng hoa quả bị mất trong trường hợp gặp điều kiện bất thuận. Tuy nhiên, đây lại chính là đặc điểm không thuận lợi trong khâu thu hoạch bởi quả bông nở lai rai làm tốn nhiều công thu hái. Chính vì vậy, cây bông là một trong những cây trồng tốn nhiều công lao động, trong đó công thu hoạch có thể chiếm đến trên 60% tổng số công lao động trong một vụ gieo trồng.


Những năm trước đây khi áp lực cạnh tranh về hiệu quả kinh tế của cây trồng khác đối với cây bông chưa cao, việc thu hoach bông lai rai và cho thu nhập khá được nông dân các dân tộc thiểu số vùng trồng bông dễ dàng chấp nhận. Tuy nhiên, hiện nay áp lực cạnh tranh này là rất quyết liệt nên vấn đề công thu hoạch trở thành một yếu tố hạn chế rất lớn đến khả năng mở rộng diện tích gieo trồng tại các vùng trồng bông trong nước nói chung, vùng Sơn La nói riêng.


Việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp kỹ thuật tổng hợp có tác dụng làm giảm đáng kể công thu hoạch bông, nâng cao thu nhập từ việc trồng bông cho nông dân các vùng trồng bông là vấn đề hết sức có ý nghĩa nhằm khuyến khích nông dân tích cực mở rộng diện tích gieo trồng, nâng cao sản lượng bông, góp phần đáp ứng nhu cầu nguyên liệu bông cho ngành Dệt May trong nước. Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu do ông Nguyễn Đình Chiến, Công ty Cổ phần Bông Miền Bắc, đề xuất triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất bông tại Sơn La” nhằm xác định được giải pháp kỹ thuật phù hợp và đồng bộ giúp giảm trên 30% số ngày công thu hoạch, năng suất cao tương đương trồng trong điều kiện bình thường, nâng cao hiệu quả kinh tế tạo cơ hội mở rộng diện tích sản xuất bông của vùng Sơn La. Đánh giá và xác định được biện pháp kỹ thuật tác động cho tỷ lệ đậu quả cao trên cây bông. Xây dựng 2 - 3 mô hình (diện tích 1 ha) trồng bông thâm canh cho tỷ lệ đậu quả cao, năng suất và hiệu quả kinh tế đạt 2 - 2,5 tấn. Đồng thời ổn định năng suất bông hạt, giảm công thu hoạch bông góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của việc trồng bông, giúp nông dân mạnh dạn trồng bông, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho lao động tại vùng sâu, vùng xa.


Sau 24 tháng (từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2016) triển khai, nhóm nghiên cứu thu được các kết quả như sau:


1. Kết quả nghiên cứu hai năm 2015 và 2016 cho thấy trên cả 3 giống đưa vào thử nghiệm đều có thời gian sinh trưởng phát triển ngắn hơn giống VN01-2. Giống VN04-5 có thời gian sinh trưởng phát triển ngắn nhất 141,8 ngày, giống VN04-4 cho NSTT cao nhất trong 3 giống (1.863 kg/ha), lãi thuần cao nhất đạt (4,46tr.đ/ha - 4,726 tr.đ/ha). Mức độ nhiễm rầy xanh của 3 giống thử nghiệm đều cao ở cấp 3,3. Tuy nhiên lãi thuần cao nhất ở công thức đối chứng đạt 6,625 tr.đ/ha năm 2015, 9,26 tr.đ năm 2016.


2. Trên cùng lượng phân bón khi tăng lượng phân bón thúc lần 1, giảm lượng phân bón thúc lần 2 thì số quả/cây giảm, thời gian nở quả được rút ngăn hơn từ 55,6 ngày ở CT1 đ/c xuống còn 48,2 ngày ở CT4. Tuy nhiên thu nhập thuần của CT4 thấp nhất chỉ đạt (3,86 tr.đ/ha - 4,3 tr.đ/ha), thu nhập thuần ở công thức đối chứng cao nhất đạt (6,92 tr.đ/ha - 7,88tr.đ/ha)


3. Khi giảm tỷ lệ phân bón N:P:K thấp hơn ở công thức đối chứng, thời gian nở quả ngắn nhất ở CT2 đạt (52,5 - 50,1 ngày), cho thu nhập thuần thấp nhất đạt 3,87 5,22 tr.đ/ha). Khi tăng tỷ lệ phân bón N:P:K cao hơn ở công thức đối chứng thời gian quả bông nở tương đương công thức đối chứng (CT1 đ/c 56,1 - 54,1 ngày, CT4 56,2 - 54,2 ngày), thu nhập thuần cao nhất ở CT4 đạt (7,08 - 10,04 tr.đ/ha) cao hơn với CT1 đ/c (6,97 -7,72 tr.đ/ha.)


4. Sử dụng Bo cho cây bông mức gây hại của rầy xanh, bệnh đốm cháy lá giai đoạn 90 ngày sau gieo thấp hơn CT1 đ/c. Biện pháp bón kết hợp phun qua lá ở CT4 cho NSTT cao nhất đạt 2.385kg/ha cao hơn CT1 đ/c 2.090 kg/ha, nhưng CT2 cho thu nhập thuần cao nhất đạt (9,0 - 9,9 tr.đ/ha) cao hơn CT1 đ/c (6,78 - 6,18 tr.đ/ha).


5. Thời điểm phun Bo giai đoạn (30 - 35) ngày sau gieo đã giảm được công thu hoạch bông. Thời gian thu hoạch bông thấp nhất 55,2 ngày cho lãi thuần đạt (7,4 - 8,02 tr.đ/ha). Tuy nhiên lãi thuần cao nhất ở công thức đối chứng đạt (8,9 - 9,78 tr.đ/ha). Lãi thuần thấp nhất ở CT4 là 4,54 tr.đ/ha


6. Sử dụng máy thu hoạch bông tiết kiệm được thời gian thu hoạch, Ở CT4 cho thời gian thu hoạch thấp nhất đạt 30,5 công, thu nhập thuần đạt 10,3 tr.đ/ha tương đương với CT2 đc (11,04tr.đ/ha). CT1 cho thời gian thu hoạch dài nhất 70,5 công thu nhập thuần đạt 5,86tr.đ/ha


7. Mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nghiên cứu năm 2015 cho thu nhập thuần đạt 11,72 tr,đ/ha cao hơn mô hình trồng thâm canh đạt 10,15 tr.đ/ha. Công thu hoạch ở mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nghiên cứu năm 2015 thấp hơn mô hình trồng thâm canh 9 công.


Nhóm nghiên cứu cũng kiến nghị cho phép đưa giống VN04-4 vào sản xuất đại trà tại vùng nghiên cứu, Triển khai mô hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật nghiên cứu kết hợp sử dụng Bo phun qua lá vào sản xuất.


Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 13414/2017) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.


P.T.T (NASATI)


Nguồn: www.vista.gov.vn

 
Các tin tức khác [Quay về] 
 
     Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng bằng đèn LED đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và ra hoa của cây tía tô xanh Hàn Quốc trồng thủy canh trong nhà    (28/08/2018 | 315)
     Bảo quản quả tươi bằng màng sinh học tinh bột sắn    (12/06/2018 | 682)
     Nghiên cứu sản xuất kháng huyết thanh virus RYSV (Rice Yellow Stunt Virus) chẩn đoán bệnh vàng lụi lúa    (20/04/2018 | 1025)
     Sản xuất nông nghiệp trên đất nhiễm mặn    (01/04/2018 | 573)
     Lúa ngắn ngày phục vụ luân canh tăng vụ    (18/09/2017 | 1465)


  :: TIN MỚI NHẤT
Tác quyền cây lúa
Chương trình Cây trồng thông minh và phát triển bền vững bệnh viện cây trồng ở Việt Nam
Chương trình làm việc của PGĐ Lê Quốc Thanh
Chương trình làm việc của PGĐ Phạm Văn Toản
Tuyển dụng chuyên gia

  :: TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
Bệnh chổi rồng hại nhãn và cách phòng trị
Đậu tương 'ùn ùn' về Việt Nam vì chiến tranh thương mại Mỹ - Trung
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam tham gia triển lãm thành tựu 10 năm thực hiện nghị quyết TW7
5 mẹo dễ làm lại rẻ bèo để giữ cho phòng ngủ lúc nào cũng thơm và sạch
Chương trình làm việc của PGĐ Lê Quốc Thanh
 

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trang tin điện tử của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.


Người chịu trách nhiệm chính : Giám đốc Nguyễn Hồng Sơn

 

Giấy phép số: 114/GP-BTTTT ngày 23/03/2007 Bộ Thông tin và Truyền thông.


Trụ sở: Thanh Trì - Hà Nội;  Điện thoại: 84.24.38615487;  Fax: 84.24.38613937.